Monday, August 26, 2013

Những cải tiến trong quy trình đăng nhập LaborMan Hoàng Long

Bài viết này dành cho việc giới thiệu và hướng dẫn cho người dùng về những thay đổi cải tiến trong quy trình đăng nhập (hay còn gọi là: Login) vào phần mềm LaborMan dùng cho Hoàng Long.

Để sử dụng phần mềm, người sử dụng luôn phải vượt qua quy trình đăng nhập. Quy trình này không chỉ kiểm tra sự đúng đắn của tên người dùng và mật khẩu, mà sau đó còn thực hiện nhiều bước kiểm tra, thiết đặt,... chuẩn bị cho một phiên làm việc mới.

Trong trường hợp mạng máy tính có trục trặc do virus hoặc lỗi phần mềm windows, lỗi mạng... quá trình đăng nhập sẽ kéo dài làm cho người sử dụng phải chờ đợi, sau một lúc lâu mới có thể thực hiện công việc được.
Để khắc phục phần nào hiện tượng này, ngoài việc phải thực hiện các biện pháp cải thiện tốc độ mạng, diệt virus, chỉnh sửa windows,... phần mềm LaborMan đã được tối ưu hóa nhiều lần nhằm giúp người sử dụng không phải chờ đợi nhiều khi bắt tay vào công việc mỗi phiên làm việc mới.

Một trong những cải thiện mà người dùng cần lưu ý được xây dựng gần giống như việc hình thành cookie trong duyệt trang web của các phần mềm Browser. Nghĩa là, nếu người sử dụng của phiên làm việc mới vẫn là người cũ (người đã đăng nhập vào phiên làm việc trước đó) thì chương trình sẽ lấy toàn bộ thiết đặt cũ mà không phải làm lại. Điều này thường xẩy ra thường xuyên vì mỗi người một máy tính, một bàn làm việc, hàng ngày tắt đi khi ra về và bật lên mỗi sáng đến làm việc...

Trong trường hợp, người dùng khác với người dùng của phiên làm việc trước đó thì chương trình sẽ tự động nhắc nhở đồng thời đưa các thiết lập về mo (về không, về null...). Người sử dụng mới, nếu muốn làm việc theo thiết đặt quyền năng của mình cần phải thực hiện một quy trình gọi là “Lấy bảng quyền mới cho User”. Quy trình này được thực hiện riêng lẻ và không mất nhiều thời gian chờ đợi.

Thông báo người dùng mới, khác với phiên làm việc trước






Đưa thiết lập của người dùng về mo (về không, về null)






Thực hiện lấy Bảng quyền mới cho User







Thiết lập cho người dùng mới đã sẵn sàng cho phiên làm việc.

Như vậy là một quá trình cải tiến công cụ làm việc đã được thực hiện nhằm đem đến sự thoải mái, tiện lợi nhất cho người dùng.

Tuy nhiên, việc xử lý còn cần phải tiếp tục hoàn thiện, nhờ sự hỗ trợ từ phía người dùng. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến để phần mềm ngày càng hoàn thiện hơn, trợ giúp đắc lực cho công việc quản lý của doanh nghiệp.

Friday, June 7, 2013

Công nghệ thông tin và nông nghiệp là tương lai của kinh tế Việt Nam

"Có nhiều hướng phát triển. Hầu hết là kế hoạch, chiến lược hoặc đang trong quá trình thử nghiệm. Nhưng một điều tôi đã nhắc lại nhiều lần: Chỉ có 2 ngành mới đích thực là tương lai của kinh tế Việt Nam: Ngành IT (Công nghệ thông tin) và ngành Nông nghiệp" – Tiến sĩ Alan Phan – doanh nhân có hơn 43 năm kinh nghiệm tại Mỹ và Trung Quốc, hiện được biết tới nhiều trong nước với tư cách một chuyên gia kinh tế, chia sẻ quan điểm về định hướng phát triển kinh tế Việt Nam.

Lúa gạo, sản phẩm chủ lực của nông nghiệp Việt nam

Dồi dào nguồn tài nguyên trí tuệ

Tại sao ngành IT lại là tương lai của kinh tế Việt Nam và lại được đặt lên hàng đầu? Thứ nhất dân số Việt Nam là dân số trẻ. Ngành IT rất cần chất xám về sự sáng tạo, năng động; điều đó cần phải có những đầu óc trẻ. Tôi nghĩ ở Việt Nam, đó là một tài nguyên rất dồi dào.

Cái thứ hai của IT là việc học không tuỳ thuộc lắm vào từ chương sách vở mà phụ thuộc rất lớn vào sự khám phá, sáng tạo của bản thân từng cá nhân. Người học ngành này, ngay cả khi phải ôm đồm những môn học không liên quan, nhưng khi đã nắm được kiến thức cơ bản rồi, vẫn có thể đi ra để lập trình hay tự tìm tòi trên mạng, sử dụng mạng thành thạo như một công cụ để làm việc.

Một câu chuyện mới đây thôi, tôi lên trang Amazon (website bán lẻ trực tuyến của Công ty thương mại điện tử đa quốc gia đóng tại Hoa Kỳ) mua mấy món đồ cần. Một việc rất bình thường khi tôi ở Hoa Kỳ, nhưng ở Việt Nam thì không sao thực hiện được. Bởi vì những trang mạng tại Việt Nam khi check vào để thực hiện giao dịch mua hàng thì máy chủ ở Mỹ chặn hết.

Tôi hỏi anh bạn là một trong những chuyên gia hàng đầu về IT ở Mỹ: Tại sao lại có hiện tượng đó? Anh bạn tôi giải thích: Ngày xưa khi internet mới bắt đầu, những tay hacker giỏi nhất là bên Đông Âu; nhưng bây giờ giỏi nhất là hacker ở Việt Nam và Trung Quốc. Thế nên, cứ các địa chỉ mạng xuất phát từ Việt Nam đi là thế giới người ta đề phòng. Tức là trí thông minh của người mình rất tuyệt vời; có điều trí thông minh ấy (ở đây đang nói trong lĩnh vực IT) phần lớn lại chưa được định hướng.

Đó là một cái đáng buồn. Nhưng mặt khác nó lại chứng minh là người mình có đủ kỹ năng và trí tuệ để cạnh tranh với thế giới về IT, nếu chúng ta có định hướng cho lớp trẻ sử dụng trí tuệ của mình. Thành ra tôi nghĩ đó là một hướng đi tốt cho tương lai của kinh tế đất nước. Thêm nữa, IT đâu cần đường sắt cao tốc, đâu cần nhà máy điện nguyên tử, nó chỉ cần một đường truyền thật là tốt là có thể kết nối với cả thế giới.

Quan trọng là biết nắm bắt cơ hội

Cái lợi thế thứ hai tôi cũng cho là tương lai của kinh tế đất nước, đó là nông nghiệp. Việt Nam mình có may mắn là khí hậu rất ôn hòa, thổ nhưỡng thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, lại có thêm vùng biển bao la để khai thác ngư nghiệp. Có thể nói đây là mặt mạnh của Việt Nam ngay cả so với Trung Quốc. Mình muốn làm về ôtô để mà cạnh tranh với Trung Quốc thì nên quên nó đi, ngay cả với Thái Lan mình cũng không đủ sức cạnh tranh.

Công nghiệp đóng tàu thì chúng ta đều biết nó gây hậu quả với môi trường là như thế nào rồi, những nước phát triển không ai còn làm nữa nên mới mang sang ta, vì thế nên dừng càng sớm càng tốt. Tất cả những cái đó không phải là tương lai đất nước; dù rằng vẫn có những trường hợp đặc biệt có sự đột phá, nhưng phần lớn người dân Việt Nam vẫn là những người sống về nghề nông; nếu cho họ một môi trường để tự phát triển, đem tới những công nghệ mới nhất từ Israel, từ Hoa Kỳ, từ châu Âu … thì sức đột phá nông nghiệp Việt Nam có thể nói sẽ rất cao.

Tôi lấy ví dụ là cà phê. Chúng ta trồng cà phê 100 năm nay sản lượng không tăng, chất lượng không cải thiện. Chúng ta ở trong nhóm những quốc gia xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới, nhưng thương hiệu hoàn toàn không có, chất lượng không được đánh giá cao, chỉ là xuất khẩu nguyên liệu thô để người ta chế biến mà thôi. Dù “ông chủ” cà phê Trung Nguyên Đặng Lê Nguyên Vũ cũng là bạn tôi, lúc nào cũng ca tụng thương hiệu của mình, nhưng thực tình trên thế giới không ai biết đến. Câu chuyện xuất khẩu gạo cũng tương tự như vậy.

Vậy nên mới nói là cần phải có sự đột phá. Chẳng hạn thay vì trồng điều chúng ta có thể trồng cây vani giá trị kinh tế hơn rất nhiều, với thời giá bây giờ trên thế giới 1 kg khoảng hơn 20.000 USD; ngay cả việc nuôi cá xuất khẩu, tôi có một anh bạn hiện đang chuyển hướng hoạt động mạnh trong việc nuôi cá tầm để lấy trứng bán mấy ngàn USD/kg thay vì đi bán cá tra như trước…

Tất cả cơ hội nằm ở đó, nhưng phải biết nắm bắt. Muốn nắm bắt được thì phải có chất xám, có tìm tòi suy nghĩ; mà quan trọng nhất là phải dám đột phá thì mới dám tận dụng các chất xám được cung cấp hay tự tìm tòi học hỏi được.

Nguồn: Báo GD&TĐ

Make cash money just by uploading
videos to YouTube!

Sunday, January 13, 2013

Hỏi/Đáp những vấn đề thường gặp trong sử dụng LaborMan

Nhằm hỗ trợ người dùng trong quá trình sử dụng phần mềm quản lý XKLĐ LaborMan, chúng tôi xin trình bày các vấn đề thường gặp dưới dạng hỏi đáp. Ngoài ra, người sử dụng luôn có thể trình bày các khúc mắc của mình dưới dạng Comment ở phía dưới của các bài viết liên quan. Chúng tôi luôn sẵn sàng trả lời, hồi đáp sớm nhất.

Bạn có thể bấm vào các câu hỏi dưới đây để xem phần trả lời chi tiết:

Tôi không biết đâu là file chương trình?

Các phiên bản phần mềm LaborMan – Quản lý XKLĐ đều có 2 file. Một file chứa dữ liệu và một file chứa chương trình. Khi làm việc, các file chứa chương trình đều móc tới file chứa dữ liệu để: hoặc lấy dữ liệu cũ ra xem – xóa – sửa, hoặc cập nhật dữ liệu mới vào...

File chứa dữ liệu dùng chung cho mọi người, còn file chương trình thì mỗi máy tính trong mạng chạy một file riêng.

File chương trình thường có tên file có bao hàm chữ LaborMan và có đuôi là .mde. Ví dụ: VTR-LaborManTW.mde.

File dữ liệu thường có tên file có bao hàm chữ Data và có đuôi là .mde. Ví dụ: VTR-DataTW.mde.

Hỏi: Hàng ngày, do đã có sẵn nên tôi thường kích đúp chuột trái vào một Shortcut trên màn hình (biểu tượng trên màn hình Desktop) để chạy chương trình Quản lý XKLĐ, nay có trục trặc, tôi không biết thực chất cái file chương trình đó là file nào trên ổ cứng của tôi?

Trả lời: Đơn giản, bạn hãy kích chuột phải vào cái Shortcut mà hàng ngày bạn hay dùng rồi chọn Properties để xem các thông số của Shortcut đó. Trong đó có tên file và đường dẫn tới nó.

Hình 1a. minh họa khi kích chuột phải vào Shortcut để gọi Properties, Hình 1b. minh họa các thông số của Shortcut:
Bấm chuột phải để gọi Properties của Shortcut
Hình 1a.
Kích chuột phải vào Shortcut rồi chọn Properties.
Properties của Shortcut dùng cho LaborMan
Hình 1b.
Thông số có tên là Target của Shortcut cho thấy
tên file và đường dẫn tới file
Hoặc đơn giản hơn nữa là bạn chỉ cần đứng con trỏ vào Shortcut đó, bạn sẽ thấy hiện thông số cơ bản như ví dụ được minh họa tại hình 1c.
Properties của Shortcut dùng cho LaborMan
Hình 1c.
Cách đơn giản để biết được rằng thực chất Shortcut này
trỏ đến file có tên là: VTR-LaborManTW.mde
và được chứa tại Folder: D:\asShVTR-Tan.
Tóm lại, nhờ cách lấy thông số của Shortcut mà ta có thể biết được chính xác tên file, đường dẫn tới file trên ổ cứng. Sau đó thông qua MyComputer ta có thể tìm đến file để copy hoặc làm gì đó với file.

Đây là cách tìm file hay dùng bởi nhiều khi với cùng 1 tên file như nhau, nhưng ta để ở nhiều nơi trên ổ cứng và thực chất ta không biết là file nào mới là file chính thức ta đang chạy nó hàng ngày.

Tôi không biết đâu là file Data của phần mềm đang chạy?

Các phiên bản phần mềm LaborMan – Quản lý XKLĐ đều có 2 file. Một file chứa dữ liệu và một file chứa chương trình. Khi làm việc, các file chứa chương trình đều móc tới file chứa dữ liệu để: hoặc lấy dữ liệu cũ ra xem – xóa – sửa, hoặc cập nhật dữ liệu mới vào...

File chứa dữ liệu dùng chung cho mọi người, còn file chương trình thì mỗi máy tính trong mạng chạy một file riêng.

File chương trình thường có tên file có bao hàm chữ LaborMan và có đuôi là .mde. Ví dụ: VTR-LaborManTW.mde.

File dữ liệu thường có tên file có bao hàm chữ Data và có đuôi là .mde. Ví dụ: VTR-DataTW.mde.

Hỏi: Tôi được nhắc nhở là phải thường xuyên Backup dữ liệu phòng khi có vấn đề. Tôi đã được hướng dẫn cách làm nhưng lại không biết chắc chắn đâu là file dữ liệu cần phải làm Backup?

Trả lời: Nếu bạn đang chạy file chương trình thì bạn có thể thấy ngay rằng hiện bạn đang kết nối với file dữ liệu nào bằng cách nhìn vào form chính như hướng dẫn tại Hình 2a.
Properties của Shortcut dùng cho LaborMan
Hình 2a.
Tên file và đường dẫn tới file dữ liệu mà Chương trình
đang kết nối làm việc hàng ngày.
Lưu ý: Tên và đường dẫn trong Hình minh họa 2a. chỉ là ví dụ. Tên chính thức phải được lấy ngay trên màn hình của bạn.

Wednesday, December 19, 2012

Có gì mới tại phiên bản ComMan 20.12.2012

Phiên bản 03.12.2012 được đánh dấu bởi việc hoàn thành và đi vào sử dụng của Module quản lý Tài sản cố định. Phiên bản 20.12.2012 hoàn thiện lại một số tính toán cũng như bổ sung thêm chức năng mới liên quan tới việc tổng hợp kèm phân loại kho hàng.

Phần viết sau đây giới thiệu các sửa đổi và hướng dẫn sử dụng các chức năng mới.

1. Loại bỏ các Mặt hàng có Loại hàng là Tài sản ra khỏi Tổng hợp Kho hàng:

Với việc Module quản lý Tài sản cố định được hoàn thiện và đưa vào sử dụng, các Tài sản (bao gồm Tài sản cố định, Dụng cụ, Công cụ làm việc) được quản lý và tính giá trị theo chế độ khấu hao riêng. Các tài sản này, trước đây đều được quản lý trong kho hàng và được tính toán trong tổng hợp kho hàng, nay cần phải loại bỏ.

Căn cứ vào quy định đánh mã Tài sản cố định là TS, dụng cụ là DC, ComMan sẽ loại trừ theo cách không thống kê các Mặt hàng có Mã Loại như trên vào trong bảng kê cũng như không cộng tiền hàng vào con số tổng giá trị kho hàng...

Như vậy, cụ thể hơn, khi nhấn nút TỔNG HỢP KHO

Chuc nang Tong hop Kho hang

Hoặc sử dụng các Menu 3F và 3K

Chuc nang Tong hop Kho hang

đều không có giá trị của Tài sản được thống kê và tính toán.

2. Thêm quyền để khống chế và cho phép user được thay đổi Người nhập, Người xuất, Người thu, Người chi trong các phát sinh Kế toán đã xác nhận.

Quy trình cập nhật các phát sinh Nhập – Xuất, Thu – Chi hiện đang thực hiện qua 2 khâu.
  • Khâu thứ nhất: khai báo cập nhật phát sinh chờ thường do các đối tượng kinh doanh hoặc nhân viên trong công ty thực hiện.
  • Khâu thứ 2 kế toán được giao quyền sẽ kiểm tra lại các dữ liệu đã khai báo, xác lập các Tài khoản (định khoản) và bổ sung các thông số về hóa đơn VAT... rồi thực hiện việc xác nhận.
Các phát sinh đã được xác nhận thông qua các quyền: 3C, 3D, 3E với Nhập Xuất và 4C, 4D, 4E với Thu Chi cho phép người dùng được phép thống kê và sửa lại một vài thông số.

Các thông số được sửa trước đây chỉ là các thông số về Tài khoản và số hóa đơn VAT. Nay bổ sung thêm quyền 3R đối với Nhập – Xuất và 4M với Thu – Chi để xác lập quyền được thay đổi Người nhập, Người xuất và Người Thu, Người chi.

Lưu ý:

  • Tất nhiên, 3R và 4M là quyền sửa nhưng phải đi kèm với quyền xem 3C, 3D... 4C, 4D... mới sửa được.
  • Quyền 3R và 4M không có ký hiệu ** nên chỉ cần đánh dấu vào bên xem là đủ.
Chuc nang sua phat sinh Nhap Xuat Thu Chi

3. Chức năng Tổng hợp kèm Phân loại Kho hàng

Các chức năng tổng hợp kho đã có của ComMan (Menu: 3F, 3K) cho kết quả tổng hợp là giá trị hàng tồn kho tại thời điểm tự chọn. Tuy nhiên, con số tổng hợp này chưa chỉ rõ bao nhiêu là hàng tồn lâu không bán được, hoặc bao nhiêu là hàng luân chuyển bình thường...

Chức năng 6J. Tổng hợp kèm Phân loại Kho hàng được phát triển thêm nhằm hỗ trợ cho việc phân loại dựa trên số tháng gần nhất không có phát sinh của từng Mặt hàng. Theo đó, kho hàng sẽ được phân thành 4 loại sau:
  • Loại 1: Hàng luân chuyển bình thường là hàng có phát sinh gần nhất trong khoảng 3 tháng nay.
  • Loại 2: Hàng luân chuyển chậm là hàng có phát sinh gần nhất trong vòng 3 đến 6 tháng.
  • Loại 3: Hàng khó bán là hàng có phát sinh gần nhất trong khoảng 6 đến 12 tháng.
  • Loại 4: Hàng tồn lưu cữu là hàng có phát sinh gần nhất từ 12 tháng trở lên.
Từ việc tổng hợp theo phân loại trên người sử dụng có thể biết được rõ hơn tình hình hàng tồn kho và có những quyết định xác đáng cho kế hoạch kinh doanh của mình.
Tong hop kem Phan loai Kho hang

Bản in tổng hợp kèm phân loại:
Ban in Tong hop kem Phan loai Kho hang

Lưu ý rằng, các con số 3, 6, 12 tháng là con số mặc định và hoàn toàn có thể thay đổi tùy biến theo ý người sử dụng. Ví dụ: theo ý của người dùng thì hàng tồn lâu quá 24 tháng không có phát sinh mới xem là hàng lưu cữu chẳng hạn thì chỉ cần thay con số rồi nhấn tổng hợp lại là được.

Một tùy biến thứ hai là khả năng thay đổi phân loại của từng mặt hàng sau khi đã nhấn tổng hợp. Theo đó, người dùng có thể căn cứ vào thực tế mà thay đổi phân loại của từng mặt hàng. Sau mỗi thay đổi (Ví dụ: từ loại 4 sang loại 1 chẳng hạn) con số tổng hợp sẽ thay đổi theo ngay sau khi nhấn phím Enter.

Về quyền:

  • Người có quyền xem 6J sẽ được khởi động Form Tổng hợp, thay đổi số tháng cho phân loại, nhấn nút Tổng hợp và in kết quả tổng hợp.
  • Người có quyền sửa thì ngoài các quyền trên còn được phép thay đổi xếp loại của từng mặt hàng khác đi so với phân loại tính ra từ số tháng không có phát sinh.
Một lưu ý cuối cùng rằng chức năng tổng hợp kèm phân loại kho hàng này chỉ thực hiện cho từng kho hàng một chứ không làm chung cho tất cả các kho hàng. Giá trị của từng mặt hàng là giá bình quân gia quyền của từng mặt hàng.





Wednesday, November 28, 2012

Module quản lý Tài sản Cố định

Module quản lý Tài sản Cố định (TSCĐ) có 2 chức năng chính là:
  • Thống kê các phát sinh TSCĐ đồng thời cho phép cập nhật thời hạn Khấu hao đối với từng Tài sản khi Nhập về.
  • Tổng hợp TSCĐ theo Kỳ trong đó cho biết Giá trị của Tài sản tại thời điểm Đầu kỳ, Cuối kỳ, cũng như quan trọng hơn cả là tính Chi phí Khấu hao đối với từng Tài sản trong Kỳ, trên cơ sở đó tính được tổng Chi phí Khấu hao TSCĐ của một bộ phận, hay toàn bộ doanh nghiệp...
Thống kê phát sinh Tài Sản Cố Định
1. Thống kê phát sinh Nhập - Xuất TSCĐ
Sau đây là những lưu ý trong sử dụng các chức năng của Module này:

1. Các thống nhất trong ghi nhận phát sinh TSCĐ:
  • Phát sinh Nhập (hay Mua) TSCĐ được thực hiện qua phiếu Nhập N1.
  • Phát sinh Xuất (hay Bán) TSCĐ được thực hiện qua phiếu Xuất X1.
  • Trong phần chi tiết của phiếu Nhập N1, mọi Mã hàng chỉ có Số lượng bằng 1 (đương nhiên khi Xuất Số lượng cũng phải bằng 1).
  • Khi hạch toán của Kế toán: Mục Tài khoản chỉ dùng: 131 và 331; Mục Tài khoản Đối ứng chỉ dùng: 211, 212, 213, 214; Mục Tài khoản khác yêu cầu Tài sản khi Nhập và khi Xuất phải giống nhau.
2. Thống kê các phát sinh TSCĐ:
Các phát sinh Nhập, Xuất TSCĐ được thống kê theo khoảng thời gian mặc định là 12 tháng kể từ ngày hiện tại trở về trước. Có thể dùng các điều kiện khác để lọc như: chỉ Nhập hay chỉ Xuất, phiếu hủy, hoặc các số Tài khoản...(xem hình 1. Thống kê phát sinh Nhập - Xuất TSCĐ)

Nếu kích đúp vào 1 phát sinh, ta có thể xem được chi tiết Phiếu liên quan tới phát sinh đó. Trong trường hợp là phát sinh Nhập, thì cho phép người được quyền cập nhật mới, thay đổi, hoặc xóa Hạn khấu hao đối với từng TSCĐ (xem hình 2.).
Chi tiết phiếu phát sinh và cập nhật Hạn khấu hao
2. Chi tiết phiếu phát sinh và cập nhật Hạn khấu hao
Về quyền: ai được quyền sửa 6H. Thống kê phát sinh TSCĐ/Cập nhật Hạn KH** thì không những được quyền thống kê mà còn được quyền cập nhật Hạn khấu hao. Ngoài ra, mọi thông tin về phiếu (kế cả Hủy) cũng không thay đổi được tại đây.

Lưu ý: Hạn Khấu hao của từng Tài sản là số tháng quy định cho việc khấu hao tài sản đó. Số này không thay đổi trong suốt thời gian. Vì vậy, sau mỗi lần cập nhật, nên bỏ quyền hạn được cập nhật để tránh sai xót không chủ ý làm thay đổi hạn khấu hao của tài sản.

3. Khái niệm về KỲ trong tổng hợp khấu hao TSCĐ:

Tại Form Tổng hợp TSCĐ, để có thể tổng hợp, luôn phải xác định Từ ngày nào và Đến ngày nào. Hình sau đây minh họa cho việc xác định các KỲ bao gồm: Trước Kỳ, Đầu kỳ, Trong kỳ, Cuối kỳ và Sau kỳ.
Các quy ước về thời gian trong tính tổng hợp TSCĐ
3. Các quy ước về thời gian trong tính tổng hợp TSCĐ
Theo đó:
  • Trước kỳ bao gồm các phát sinh có ngày nhỏ hơn hoặc bằng (<=) Từ ngày. Nghĩa là bao hàm cả các phát sinh trong ngày Từ ngày;
  • Trong kỳ bao gồm các phát sinh có ngày lớn hơn Từ ngày (>) và nhỏ hơn hoặc bằng (<=) Đến ngày;
  • Sau kỳ là những phát sinh có ngày lớn hơn (>) Đến ngày;
  • Vậy giá trị Đầu kỳ là giá trị tổng hợp của những phát sinh đã diễn ra trước kỳ;
  • Giá trị Cuối kỳ là giá trị tổng hợp của những phát sinh diễn ra Trước kỳ + Trong kỳ;
  • Giá trị Trong kỳ thì đơn thuần là những diễn biến phát sinh Trong kỳ.
4. Các diễn tiến phát sinh của TSCĐ theo thời gian:
Một Tài sản được mua về, ngày mua, ngày trong phiếu Nhập được coi là ngày bắt đầu tính khấu hao của Tài sản đó. Trong quá trình sử dụng, Giá trị của Tài sản giảm dần đều (khấu hao Tuyến tính) theo thời gian. Hết hạn khấu hao, giá trị của Tài sản còn bằng 0.

Tài sản cũng có thể bán đi hoặc thanh lý. Thời điểm bán hoặc thanh lý cũng có thể trước hoặc sau thời điểm mà Tài sản đó hết khấu hao.

Hình 4. sau đây chỉ ra tất cả các diễn biến có thể của tài sản trong một Kỳ tổng hợp. Đầu mũi tên là thời điểm mua tài sản, cuối mũi tên là thời điểm hết khấu hao của tài sản và mũi tên đỏ là chỉ phát sinh bán tài sản.

10 trường hợp có thể xẩy ra đối với Tài sản cố định
4. 10 trường hợp có thể xẩy ra đối với Tài sản cố định
Đường mũi tên đứt đoạn chỉ rằng tài sản đã hết khấu hao nhưng vẫn còn dùng, chưa bán, chưa thanh lý.

5. Các con số tổng hợp đối với TSCĐ:

Sau khi nhấn nút Tổng hợp, ComMan sẽ tính và ghi lại tất cả các tham số tại thời điểm Đầu Kỳ, Cuối Kỳ và Chi phí khấu hao Trong kỳ.

Có thể kích đúp chuột vào từng Tài sản để xem chi tiết các tham số (xem hình 5.). Trong đó, một vài tham số chỉ có giá trị khi có phát sinh phù hợp. Ví dụ: 11. Ngày mua tài sản trong kỳ chỉ có giá trị nếu Tài sản đó được mua vào ngày Trong kỳ. Các tham số của từng Tài sản cũng có thể in ra giấy khi nhấn vào nút in tai Form.
15 tham số của một Tài sản cố định
5. 15 tham số của một Tài sản cố định
Ngoài ra cũng có thể tổng hợp những số liệu đặc biệt như Giá trị, Tổng giá trị của tất cả TSCĐ tại thời điểm Đầu kỳ, Cuối kỳ và Chi phí, Tổng chi phí khấu hao của TSCĐ trong kỳ (xem hình 6.).
Tổng hợp Tài sản cố định theo KỲ
6. Tổng hợp Tài sản cố định theo KỲ
Và cuối cùng là có thể in ra giấy bảng tổng hợp Tài sản cố định theo kỳ (hình 7.)
Bản in Tổng hợp Tài sản cố định theo kỳ
7. Bản in Tổng hợp Tài sản cố định theo kỳ




Thursday, July 26, 2012

Tôi 24 tuổi, bốn lần khởi nghiệp thì ba lần thất bại

Đã có lúc tôi nảy sinh suy nghĩ: “Hay là mình sẽ tìm kiếm một công việc nào đó ổn định, có thu nhập hàng tháng, lúc đó tôi sẽ lại chân trong, chân ngoài để kiếm thêm và gây dựng sự nghiệp ?”

Có những lúc tưởng chừng như thất bại ê chề đã nhấn chìm tôi. Tôi thấy mình là một thằng vô dụng. Năm lần bảy lượt cầm tiền của gia đình để làm ăn mà vẫn không thể thành công nổi. Tôi bắt đầu hoài nghi về những cuốn sách tôi đã đọc, về thành công, về làm giàu, về lập nghiệp, tất cả chúng chỉ là những loại kiến thức sáo rỗng, thiếu thực tế và dành cho những kẻ mơ mộng, mù quáng? 

Tôi lại càng thêm hoang mang khi nhìn những người cùng trang lứa đã ổn định vào những công việc được gia đình thu xếp sẵn, có những vị trí rất tốt và có tương lai. Trong tôi bắt đầu nảy sinh suy nghĩ: “Hay là mình sẽ tìm kiếm một công việc nào đó ổn định, có thu nhập hàng tháng, lúc đó tôi sẽ lại chân trong, chân ngoài để kiếm thêm và gây dựng sự nghiệp”. Tôi đi hỏi những người lớn tuổi để được tư vấn thêm, và tất cả đều cho tôi một lời khuyên: công việc ổn định. 

Vốn là một đứa cứng đầu, tôi vẫn không thể chấp nhận được phương án đó. Tôi tự hỏi mình rằng: “Nếu mình vẫn đi những con đường giống người khác đã đi, liệu mình có thể đến đích của thành công hay vẫn chỉ đến cái đích giống như những người khác?” 

Tôi tự huyễn hoặc mình rằng biết đâu thành công đang ở rất gần, chỉ vài bước nữa thôi là mình có thể chạm đến con đường ngắn nhất dẫn vào nó. Biết đâu nếu mình quay đầu lại và đi con đường như những người khác, mình sẽ làm lại từ đầu và không bao giờ tìm thấy thành công nữa. Đó là động lực giúp tôi đứng dậy và khởi nghiệp lần nữa. 

Nhưng lần khởi nghiệp này khác với những lần trước. Đó là lúc kinh tế gia đình khó khăn, là lúc tôi không có bất kỳ một đòn bẩy tài chính nào hỗ trợ nữa. Tôi bắt đầu từ hai bàn tay trắng hoàn toàn. Lúc đó, tôi đã nhìn lại mình một cách kỹ càng, đánh giá thế mạnh, điểm yếu của bản thân (SWOT). Thôi mơ mộng viển vông, thôi vẽ vời những mục tiêu dài hạn, tôi đặt ra mục tiêu thực dụng nhất và cần thiết nhất: làm sao để có tiền, để có thể vượt qua thời khắc khó khăn này. 

Như vậy tôi đã 4 lần khởi nghiệp bằng những công việc khác nhau trong đó 3 lần đã thất bại. Ở lần thứ 4 này tôi đã có thể nuôi sống doanh nghiệp của mình, tôi đã có thể góp một phần nhỏ vào để trang trải khó khăn cho gia đình, tôi đã có một đội cùng tôi đồng hành để tìm kiếm thành công. 

Giờ nhìn lại tôi thấy mình có những sai lầm sau:

Hiếu thắng: Sống trong sự bảo bọc của gia đình từ nhỏ, thiếu sự va vấp và sinh hoạt cộng đồng. Điều đó làm cho cái tôi của tôi rất lớn. Luôn bảo vệ quan điểm cá nhân và hiếu thắng, thiếu sự lắng nghe ý kiến của người khác. Luôn ghét phải nhận những lời chỉ trích về bản thân mình. Tôi không dám nghĩ mình đã là một người như thế. 

Thiếu sự nỗ lực, quyết tâm: Cầm tiền gia đình đi khởi nghiệp. Số tiền đó không phải là một con số lớn lắm. Nếu thất bại, số tiền mất đi cũng không phải là nhiều. Chính điều đó làm cho tôi thiếu một sự nỗ lực, quyết tâm cần phải có. Thất bại có vẻ nhẹ nhàng khi trong đầu mình có những suy nghĩ kiểu như nếu có thất bại thì cũng chỉ mất một ít tiền, bù lại mình sẽ học được nhiều kinh nghiệm quý báu.

Lãng phí thời gian: Chính vì thế mà tôi lãng phí thời gian hơn. Tôi không tận dụng mọi lúc có thể để gây dựng và phát triển mà lãng phí vào việc lên mạng, tham gia vào những cuộc tranh cãi vô bổ. 

Chọn sai người đồng hành: Mỗi lần khởi nghiệp, tôi chọn cho mình một người đồng hành. Cứ nghĩ rằng những người anh em tốt của nhau thì khi làm việc cùng nhau sẽ hiểu nhau hơn và đạt được hiệu quả hơn. Nhưng sự thực không phải thế.

Nói nhiều hơn là làm: Do đó chúng tôi dành nhiều thời gian để nói chuyện, “chém gió” hơn là lao vào công việc để gặt hái thành công. 

Không có mục tiêu ngắn hạn mà chỉ có mục tiêu dài hạn: Chúng tôi ngồi vẽ cho mình những ý tưởng xa vời mà một khi nó thành công, chúng tôi sẽ có cơ hội đổi đời. Nhưng cái trước mắt, cái sẽ giúp chúng tôi sống được đến khi thành công thì lại lười nhác, đùn đẩy nhau để làm. 


Nhưng chính những thất bại đã cho tôi nhiều bài học kinh nghiệm và giúp mình trở nên chín chắn hơn. 

Thành công không đến với những kẻ lười: Giả sử cái đích thành công cách mình một ngàn kilomet, nếu mỗi ngày chúng ta bước được một mét, vậy sau bao lâu thì chúng ta có thể chạm vào thành công? Tôi cố gắng tiết kiệm thời gian, nỗ lực và làm việc chăm chỉ. Hy vọng mình có thể đi với tốc độ nhanh hơn. 

Chọn người đồng hành: Tôi tránh những người ngại khó, ngại khổ, những người thiếu quyết tâm và lười nhác. Tôi chọn cho mình những người cùng nhìn về một hướng và cùng nhau chèo lái, để đẩy con thuyền đi với vận tốc nhanh hơn nữa.

Mục tiêu ngắn hạn: Chúng tôi lên cho mình những mục tiêu ngắn hạn có thể giúp nuôi sống doanh nghiệp, trang trải chi phí hàng ngày. Từ đó chúng tôi sẽ có tiền để đầu tư vào các mục tiêu dài hạn. 

Cho đến thời điểm hiện tại, tôi cũng không biết chắc rằng liệu mình sẽ thành công hay thất bại tiếp. Nhưng sau tất cả, tôi đã trưởng thành hơn rất nhiều và tôi không sợ thất bại nữa. Nếu như tôi tiếp tục thất bại, chắc chắn tôi sẽ không bao giờ thất bại vì những lý do cũ và sẽ dám nghĩ, dám làm và làm việc hết mình cho mục tiêu mà mình theo đuổi. 

Tôi xin trích lại câu nói mà mình thấy tâm đắc và thấy được mình trong đó: “Bạn sẽ không bao giờ biết được mình mạnh mẽ thế nào cho đến khi trở nên mạnh mẽ là sự lựa chọn duy nhất mà bạn có!”

Đồng Quang Trọng

Thursday, July 19, 2012

Bạc như nghề... lập trình

Đam mê, kỳ vọng và cả mơ ước vào nghề lập trình viên, nhưng rồi sau 15 năm hoài bão, nhiều sinh viên CNTT ngày ấy bây giờ đã phải nghĩ khác.

Nghề lập trình viên phần mềm ngày một ít được quan tâm vì lý do thu nhập.
Bỏ code đi sale

Được biết đến như một trong những 8x thế hệ đầu đam mê coding (lập trình phần mềm), sau vài năm gặp lại, thật bất ngờ khi bỗng dưng thấy Hoàng nhảy sang vai trò kinh doanh thực phẩm - vốn chẳng ăn nhập với những gì anh được học.

Hoàng cho biết: "Những năm 98-99 là thời kỳ bùng nổ Internet và vì thế nghề lập trình cũng lên nhanh, lên cao. Ai cũng nhìn vào Yahoo, Microsoft để định hướng nghề nghiệp cho mình và lao vào học code để mong đổi đời nhờ công nghệ. Nhưng sự thật nào đã hẳn như vậy".

Những người thuộc "thế hệ phần mềm" như Hoàng không phải hiếm bởi thời điểm đó trước hàng loạt cơ hội về việc lập trình, bán phần mềm, xuất khẩu mã nguồn với mức lương vài trăm USD/tháng quả là đáng mơ ước khi mà thu nhập thực lĩnh tại các đơn vị khối nhà nước lúc đó chỉ vài trăm ngàn.

Vậy mà giờ đây, thứ duy nhất Hoàng còn giữ được cho mình sau quãng thời gian làm lập trình viên chính là khả năng tư duy logic để áp dụng vào việc điều phối kinh doanh cửa hàng thực phẩm của gia đình.

Không như Hoàng, Quang Dũng, sinh năm 83 từng có 5 năm tu nghiệp tại Hà Lan, sau khi về nước đã được vào ngay một tập đoàn làm đúng nghề IT, phụ trách lập trình mạng core. Vậy nhưng, chưa đến 2 năm, Dũng đã phải "lướt" khỏi công ty sau khi hoàn thành thêm 1 bằng MBA theo diện liên kết đào tạo trong nước để rồi giờ làm việc cho một công ty chuyên về hoá mỹ phẩm dưới vai trò quản lý marketing.

Dũng chia sẻ: "Cái tuổi 20 vào những năm 2002 nhìn thị trường phần mềm thì màu mỡ lắm. Nào lập trình cho các dự án tin học hoá chính phủ, xuất khẩu phần mềm hay mở các công ty gia công tư nhân là đủ sống. Nhưng thực tế nào phải vậy khi vào công ty nhà nước làm với những tư duy nặng nề khiến rất khó để triển khai một dự án phần mềm nội bộ chứ đừng nói lập trình để đem bán. Thu nhập một tháng của kỹ sư phần mềm cố lắm mới được gần 6-7 triệu, đấy là bao gồm cả làm thêm ngoài thì sống sao nổi".

Học hành chuyên ngành, đào tạo bài bản như Dũng, Hoàng đã khó bám nghề, thì với những tay ngang học lập trình từ các trung tâm đào tạo chứng chỉ lại càng khó khăn hơn.

Duy Anh, học viên một trung tâm đào tạo có tiếng ở Yết Kiêu cho biết: "Ở trung tâm em được đào tạo toàn kiến thức thời thượng, với ngôn ngữ lập trình mới, hệ thống cập nhật. Tuy nhiên thì giữa việc học và việc đem ra ứng dụng lại khác xa nhau và nếu học xong cũng chỉ kiếm được công việc đủ sống bằng nghề code, chứ nếu muốn giàu thì quả là viễn tưởng".
Anh Dương Hoàng Anh, giám đốc một công ty có nhu cầu xây dựng phần mềm website thông tin điện tử cho biết: "Nếu thuê một công ty có tiếng thiết kế từ CMS đến giao diện sẽ tốn chi phí lần đầu cả trăm triệu, thậm chí hơn, và chưa kể phí bảo trì, nâng cấp hàng năm. Trong khi nhu cầu cần đánh nhanh thắng nhanh, và qua khảo giá tôi thấy nhiều nơi rao bán các phần mềm CMS, crawler tin tức tự động chỉ... 10 triệu bao luôn thiết kế giao diện".

Việc phá giá, giành khách của các dân coder phát sinh khá nhiều trong khoảng thời gian 4 năm trở lại đây, nhất là tại các thời điểm suy thoái, lạm phát. Công tác ở các công ty phần mềm khó sống, nhiều lập trình viên "bứng" mã nguồn mình có ra ngoài làm riêng để rồi phá giá thị trường và dẫm lên nhau như tình trạng trên.

Từ đó, tạo nên một bộ mặt khá nhộn nhạo của nghề lập trình viên và lĩnh vực kinh doanh phần mềm nói chung, khiến nhiều doanh nghiệp Việt khi muốn chọn giải pháp lại loay hoay mua của... nước ngoài.

Gỡ mãi không ra

Một điều dễ nhận thấy, các cơ sở đại học trong nước hiện nay khi đào tạo ngành nghề CNTT thường chỉ chung chung và phân mảng với đủ thứ từ coding cho đến cả networking, khiến sinh viên nếu muốn vững nghề phải học thêm tại các trung tâm bên ngoài như Aptech, Cisco, Oracle.

Lập trình ứng dụng di động đang là mảnh đất màu mỡ nhưng vẫn bị bỏ ngỏ tại Việt Nam.
Mặt khác, chính việc đánh giá không đúng vai trò của lập trình viên trong một bộ máy công ty khiến nhiều kỹ sư phần mềm khi ra trường vào làm được vài ba tháng là rơi vào tình trạng bất mãn, chán nghề.

Trung Anh, kỹ sư phần mềm tại một công ty nhà nước cho biết: "Em may mắn gia đình có quan hệ nên gá được vào công ty làm ở phòng IT, vị trí lập trình. Vậy mà đang ngồi code thì bị gọi sang phòng hành chính cài lại Windows, lúc thì bị điều lên phòng kế toán quét virus. Đám lập trình em cứ như chân sai vặt khắp công ty, trong khi dự án về Văn phòng điện tử em đang phát triển thì sếp bảo dừng vì không có kinh phí triển khai".

Trong một diễn biến khác, nhiều công ty phần mềm cũng đang trong tình trạng sống dở, sống khó giữa cơn bão suy thoái mặc dù chỉ bị ảnh hưởng gián tiếp. Từ đó tạo nên một thực trạng yếu kém về cơ chế dành cho các lập trình viên với mức thu nhập thấp, ít đãi ngộ và không tạo điều kiện để đào tạo và nâng cao tay nghề, cập nhật kiến thức mới - vốn là yếu tố tối quan trọng đối với nghề code.

Tại diễn đàn VietNam ICT Summit 2011, khi một câu hỏi từ phía doanh nghiệp đặt ra với các diễn giả về việc các đơn vị phần mềm thì không có vốn, không có tài sản thế chấp, chỉ có chất xám thì khi muốn đầu tư, mở rộng kinh doanh để xuất khẩu phần mềm vay tiền được ở đâu đã thành một câu hỏi khó và không có lời giải.

Từng giành được nhiều giải thưởng lập trình Tin học trẻ cho đến Trí tuệ Việt Nam 2002 từ năm lớp 7, lập trình viên Bùi Xuân Dũng hiện đang công tác ở Nhật cũng cho biết chưa có dự định về Việt Nam bởi để sống với nghề lập trình trong nước là rất khó.

Đối với các lập trình viên trong nước, bên cạnh việc tự học hoặc tham gia vào các khoá đào tạo chứng chỉ thì mục tiêu xin việc tại các công ty phần mềm khá mơ hồ vì lý do thu nhập. Vì vậy, số đông đều chọn giải pháp là vào các công ty phần mềm nước ngoài, chấp nhận mức lương vừa đủ sống và tham gia coding các dự án được giao thay, chấp nhận cày cuốc ngày đêm với những mã lệnh chứ không kỳ vọng gì hơn ở nghề lập trình vốn một thời là nghề "hot". 

Võ Trung
Vietnamnet